Ngoài kiến, còn vài loài khác chuyên rình ở cửa tổ. Phần lớn không nguy hiểm bằng kiến nhưng cộng dồn lại cũng đáng kể, nhất là với đàn yếu.
Điều quan trọng là biết loài nào đáng xử lý và loài nào để mặc.
Thằn lằn và tắc kè: đậu gần cửa tổ đớp ong ra vào, nhất là buổi tối và sáng sớm. Mỗi con ăn không nhiều nhưng ngày nào cũng vậy.
Nhện: giăng lưới gần cửa tổ hoặc trên đường bay. Ong mắc lưới không thoát được.
Chim nhỏ: một số loài bắt ong khi bay, nhưng khó ngăn và thường không đáng kể.
Ruồi ký sinh: đẻ trứng vào tổ khi có kẽ hở, ấu trùng ăn phần trong tổ. Đây là loài đáng lo hơn cả trong nhóm này.
| Loài | Mức ảnh hưởng | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Thằn lằn, tắc kè | Nhẹ tới trung bình | Dọn nơi ẩn nấp gần tổ |
| Nhện | Nhẹ | Gỡ lưới quanh cửa tổ định kỳ |
| Chim nhỏ | Nhẹ | Thường không cần làm gì |
| Ruồi ký sinh | Đáng lo | Bịt kẽ hở trên thùng |
| Mối | Đáng lo với thùng gỗ | Kiểm chân và đáy thùng |
| Chuột | Hiếm nhưng nặng | Kê cao, che chắn |
Đây là loài đáng lo nhất trong nhóm, dù ít người biết tới.
Chúng đẻ trứng qua kẽ hở trên thùng hoặc chỗ nứt. Ấu trùng nở ra ăn phần bên trong tổ, làm đàn suy dần mà nhìn từ ngoài khó nhận ra.
Dấu hiệu: mở thùng thấy có ấu trùng lạ không phải của ong, mùi bên trong khác thường, và đàn suy không rõ nguyên nhân.
Cách phòng chính là bịt kín kẽ hở: thùng không nứt, nắp đóng khít. Đàn khoẻ cũng tự bịt bằng nhựa cây nên ít bị hơn.
Nguyên tắc là dọn nơi ẩn nấp chứ không diệt.
Thằn lằn thích trú trong khe hở, đống vật liệu, bụi rậm gần tổ. Dọn quang những chỗ đó thì chúng đi nơi khác.
Nhện giăng lưới ở chỗ khuất gió. Gỡ lưới quanh cửa tổ khi đi kiểm hằng tuần là đủ.
Tuyệt đối không dùng bẫy dính hay thuốc gần khu đặt tổ. Bẫy dính bắt cả ong, thuốc thì ảnh hưởng đàn.
Ở Ong Xanh, việc dọn quanh tổ được gộp chung với buổi kiểm chống kiến.
Với đàn khoẻ thì phần lớn các loài này không đáng kể. Đàn bù lại thừa sức.
Đáng lo khi đàn đang yếu: mới tách, mới chuyển về, hoặc vừa qua sự cố. Lúc đó mất thêm vài chục con mỗi ngày cũng là gánh nặng.
Cũng đáng lo khi thấy nhiều loài cùng lúc, vì đó thường là dấu hiệu khu đặt tổ có vấn đề: quá rậm rạp, nhiều chỗ ẩn nấp, hoặc ẩm thấp.
Lúc đó việc cần làm không phải diệt từng loài mà là dọn quang cả khu.
Có một cách kiểm đơn giản: ra thăm tổ vào lúc chập tối, khi thằn lằn và tắc kè bắt đầu hoạt động. Nếu thấy vài con đậu sẵn quanh cửa tổ thì biết khu đó đang là nơi chúng quen kiếm ăn, và nên dọn quang trước khi đàn yếu đi.
Mỗi con không nhiều, nhưng liên tục ngày này qua ngày khác thì đáng kể với đàn yếu.
Không cần. Dọn nơi ẩn nấp gần tổ thì chúng tự đi chỗ khác.
Bịt kín kẽ hở trên thùng, giữ thùng không nứt, và giữ đàn khoẻ.
Thường không. Khó ngăn mà thiệt hại cũng không đáng kể.
Dọn quang quanh tổ hằng tuần, gộp chung với buổi kiểm chống kiến.
Trong mọi thứ có thể làm mất một đàn ong dú, kiến đứng đầu. Cách phát hiện sớm và những biện pháp mà Ong Xanh đã thử qua.
Hai vấn đề diễn ra âm thầm mà hậu quả lại nặng. Dấu hiệu nhận biết sớm và cách xử lý trong điều kiện thực tế của Đông Nam Bộ.
Ong đàn khác kéo sang lấy mật là chuyện có thật và diễn ra rất nhanh. Dấu hiệu nhận biết, nguyên nhân và cách ngăn từ sớm.
Đàn mất chúa vẫn ra vào bình thường trong vài tuần đầu nên rất khó nhận ra. Mốc thời gian cần theo dõi và cách xử lý khi đã chắc chắn.
Nuôi ong dú thuận tự nhiên: hạn chế can thiệp, không hoá chất, giữ nguồn hoa bản địa, để đàn tự điều chỉnh. Triết lý nuôi ít mà bền.